
Trang blog dành cho trao đổi sự đời ,trao đổi các bài viết về học và làm Toán
Nói nhỏ :
Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015
Mỗi ngày giài một bài toán hay : số 01
Nếu mỗi ngày bạn giải được một bài toán khó thì tôi
nghĩ sớm muộn gì bạn sẽ trở thành một học sinh giỏi Toán . Với ý tưởng đó tôi mở
chuyên mục "Mỗi ngày giải một bài Toán hay " trên trang FB này để các
trò tham khảo nhé!
Bài này Th Lữ đăng bài số học , Thầy ra cho đội tuyển
HSGQG ngà 24-12-2014
Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015
Quy tắc quản trị thông minh
QUY TẮC SMART TRONG QUẢN TRỊ :
S -
Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu;
M - Measurable: Đo đếm được;
A - Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình;
R - Realistic: Thực tế, không viển vông;
T - Time bound; Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra.
M - Measurable: Đo đếm được;
A - Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình;
R - Realistic: Thực tế, không viển vông;
T - Time bound; Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra.
Giúp các HSG chuyên Lý
Thầy Lữ tính giúp các HSG chuyên Lí những nguyên hàm thường gặp trong tính toán các đại lượng Vật lí trong các đề thi Olympic (các em học sinh lớp 11 chưa được học về tích phân)
và đây nữa :
và đây nữa :
Tài năng xứ Nghệ
Câu chuyện về ba người thầy xứ
Nghệ
1.Giáo sư Đặng Thai Mai :
Thầy Đặng Thai Mai là con của nhà chí sỹ cách mạng Đặng
Nguyên Cẩn. Lứa học trò chúng tôi không ai quên hình ảnh bậc chí sỹ này trong
các câu văn được học:
“Thân, Dậu, Tuất bấy nhiêu năm tân khổ, khi đào cây, khi
lượm đá giữa biển trời, gió bụi vẫn thung dung;
Đặng, Hoàng, Ngô ba bốn bác hàn huyên, lúc uống rượu, lúc
ngâm thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khảng khái”.
(“Văn tế Phan Chu Trinh” của Phan Bội
Châu)
Thầy Mai giác ngộ cách mạng sớm, từ lúc còn cắp sách và
năm 1930 đã bị lãnh án 3 năm tù. Thầy là người sáng lập Trường Thăng Long và
trực tiếp giảng dạy. Giờ dạy của thầy cuốn hút học trò, bởi kiến thức uyên bác
và những phát hiện độc đáo. Những công trình như: “Văn học khái luận”, “Lỗ Tấn
thân thế và văn nghệ”, “Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa phục hưng”,
“Trên đường học tập và nghiên cứu”, “Văn thơ Phan Bội Châu”, “Văn thơ cách mạng
đầu thế kỷ XX”… luôn có vị trí trong tủ sách của những người nghiên cứu. Đọc
sách lý luận của thầy, ai cũng nhận ra dấu ấn riêng, bởi tư duy trong sáng và
cách viết uyển chuyển pha chút hài hước, thâm thúy.
Thầy đã giữ những trọng trách: Bộ trưởng Bộ giáo dục và
Đào tạo, Viện trưởng Viện Văn học và Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật
Việt Nam. Những người từng làm việc với thầy, đều đã quen với sự ân cần, thận
trọng và nghiêm túc đến mẫu mực. Thầy sống giản dị, trọng đời sống tinh thần.
Có câu chuyện sau ngày giải phóng miền Nam, một người học trò cũ của thầy muốn
biếu một ngôi nhà, và xin thầy làm hồ sơ, thủ tục. Thầy không làm. Người này đã
tự động làm thay. Nhưng khi biết, thầy vẫn chối từ, vì “Ăn thì nhiều, chứ ở thì
mấy”. Trong gia đình, thầy cũng là một tấm gương sáng. Ba con gái của thầy đều
đi vào các ngành khoa học xã hội nhân văn và cũng là những giáo sư mẫu mực.
Người con trai duy nhất của thầy là Kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng. Trong các
công trình của anh, người ta thấy sự chặt chẽ mà khoáng đạt, một tư duy vừa
khoa học, nghiêm nhặt vừa nghệ thuật, lãng mạn. Anh có sự kế thừa những tinh
hoa của người cha Đặng Thai Mai.
2. Giáo sư Tạ Quang Bửu :
Mảnh đất Nam Đàn tự hào có thầy Tạ Quang Bửu (1910 –
1986). Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, thầy là một trí thức cách mạng tài
ba. Thầy đỗ đầu tú tài bản xứ, từng học Đại học Tổng hợp Sorbonne (Paris) và
Trường Đại học Tổng hợp Oxford (Anh). Về nước dạy học, thầy dạy rất hay ở nhiều
bộ môn, từ Toán, Lý, Hóa, Tiếng Anh đến Động thực vật, Lịch sử, Địa lý. Năm
1947, trong cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thầy viết sách “Bắn máy bay bằng
súng trường”. Và sau đó nhiều máy bay Pháp bị quân ta hạ gục.
Thời đánh Mỹ, thầy chỉ đạo 2 tổ nghiên cứu phá ngư lôi,
phá bom từ trường khiến những vùng sông bị Mỹ phong tỏa được khai thông. Thầy
còn là chính trị gia mẫn tiệp tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Fontaine Bleau, làm
trợ lý đối ngoại cho Bác Hồ khi Người giao tiếp với đồng minh. Với kẻ thù, thầy
có thái độ không khoan nhượng. Khi làm trợ lý cho Giám đốc kỹ thuật Nhà máy
Thủy điện Huế, nhà nước bảo hộ tặng thầy Huân chương Bội tinh. Trước đông đảo
quan khách, thầy cảm ơn rồi cầm huân chương đưa cho người đứng cạnh. Hành động
“phạm thượng” này khiến phía Pháp tức tối. Chúng bắt giam thầy một tuần. Tại
Hội nghị Đà Lạt, một quan chức Pháp có ý chế giễu, khi hỏi thầy: “Không biết
quân đội Việt Minh học trường võ bị nào mà phong tá úy”. Thầy trả miếng: “Chúng
tôi chả học trường nào, cứ ai đánh được thiếu úy Pháp thì được phong trung úy,
đánh được trung úy Pháp thì phong đại úy, tuần tự tiến lên”.
Tất cả những ai đã biết thầy hẳn đồng cảm với những lời
kính trọng của nữ Giáo sư Tiến sỹ Hoàng Xuân Sính: “Thầy để lại cho tôi sự giàu
có về trí tuệ, đạo đức mà tôi chỉ có sức nhận được chút ít… Nhưng tôi tin có
nhiều bạn đồng nghiệp của tôi, cũng là học trò của thầy, đã có sức nhận tốt hơn
tôi cái gia tài phong phú mà thầy để lại”. Một trò khác của thầy, ông Phan Văn
Chương, lại khẳng định: “Thông minh, học vấn uyên thâm, phát triển toàn diện,
trung thực, sống thanh bạch, trong sáng… một Lê Quí Đôn của thời đại Hồ Chí
Minh”.
3. Giáo sư : Nguyễn Cảnh Toàn :
Sinh sau thầy Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, hơn một thập
kỷ, thầy Nguyễn Cảnh Toàn (SN 1926) được xếp vào 1 trong 500 danh nhân khoa học
của thế kỷ XX. Con đường thầy đã đi là con đường tự khám phá, tự học rất có ý
nghĩa với mỗi chúng ta. Từ một cậu tú học “nhảy cóc”, Nguyễn Cảnh Toàn tự học
để dạy được cấp III, rồi lại tự học để dạy đại học, bảo vệ luận án phó tiến sỹ,
tiến sỹ. Năm 23 tuổi, thầy là người duy nhất trong một kỳ thi đặc biệt chỉ có 1
thí sinh để chọn giáo viên trung học chuyên khoa chính thức. Thầy đã làm bài
xuất sắc được toàn bộ ban giám khảo cho điểm cao.
Khi lãnh trách nhiệm hiệu trưởng, rồi thứ trưởng, thầy
càng có điều kiện hiểu sâu, hiểu rộng giáo dục. Thầy coi việc rèn luyện tư duy
khoa học, sáng tạo cho học sinh là cách tiếp cận với nghiên cứu khoa học. Bản
thân thầy, bằng tư duy độc lập, thầy đã “dám sửa lại phần công thức lượng giác
Lobachersky” và được tác giả cuốn Hình học cao cấp được Giáo sư N.V. Ephimor
chấp nhận, đưa vào khi tái bản lần thứ tư. Rồi thầy còn nghiên cứu phát hiện Lý
thuyết đối hợp bộ (1963), Hình học siêu phi Ơclít (1970). Công trình của
thầy có mặt trong Từ điển khoa học quốc tế. Trên mảnh đất người ta đã từng gieo
gặt, thầy lại thâm canh để có một vụ mới.
Với thầy Toàn, đọc 300 trang sách mà lĩnh hội được thì
vẫn là học có thầy. Còn chỉ đọc 30 trang mà biết lật đi, rồi lật lại, vừa bảo
vệ, vừa phản biện để mình trở thành đồng tác giả hoặc đối lập, đấy mới là tự
học. Có một lần, thầy đi dự giờ của một giáo viên giỏi Thái Bình. Thầy bình
thản theo dõi, không có dấu hiệu tán thưởng hay phản bác, cũng không ghi chép
gì. Thế mà sau đó, thầy viết liền 5 bài báo, trên Báo “Khoa học và đời sống”,
giới thiệu nội dung bài dạy, rồi đưa ra nhiều cách dạy khác nhau, khai thác
tiềm lực học sinh.
Phương pháp nào thầy nêu ra cũng giúp học sinh tự khám
phá, tự kết luận. Thầy không ưa cách áp đặt, dù trong giờ dạy hay trong sách
giáo khoa. Thầy Toàn có dáng vẻ đường bệ, sang trọng, nhưng lại rất giản dị
trong sinh hoạt. Là Thứ trưởng, nhưng thầy không quen bia rượu, thuốc lá, trà
thơm; không thích khoản đãi linh tinh. Thầy giải quyết công việc mạch lạc, nói
năng gọn gàng, trúng vào những khúc mắc của người hỏi. Ngay khi phản đối, giọng
thầy cũng kiên quyết nhưng mềm mỏng, khó mà trách được thầy…
Những câu chuyện về thầy Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu và
Nguyễn Cảnh Toàn tuy chi tiết khác nhau, nhưng cốt cách của người xứ Nghệ trong
các thầy thì lại rất thống nhất: ý chí, tinh thần vượt khó khi tiến công vào
khoa học và đều chiếm lĩnh được những đỉnh cao. Thầy nào cũng giản dị, trung
thực và khẳng khái. Lòng yêu nước, yêu người của các thầy mãi mãi là tấm gương
sáng cho tất cả chúng ta!
Phan Thị Nhật
(Hà Nội)
Thầy Tôn Thân
Người thầy đầu tiên của những học sinh giỏi toán
Thầy Tôn Thân tâm sự, thầy không bao
giờ áp đặt cách dạy của mình vào những bộ óc non nớt nhưng khao khát sáng tạo.
Giờ luyện tập, thầy len giữa thế giới sáng tạo của học trò, cùng hồi hộp, cùng
vui buồn với các em qua những trang nháp trắng tinh đến khi chằng chịt con số,
hình vẽ. Thầy còn tìm đọc loại sách "Kim Đồng" để hiểu thêm sự vật
qua đôi mắt trẻ thơ sẽ ra sao. Đêm đêm, bên những bài toán hóc búa, thầy luôn
trăn trở, khi giải quyết bài này, các em sẽ theo con đường nào?
Cách đây 5 năm, khi tôi viết bài về PGS.TSKH Vũ Đình
Hòa (người mà năm 1974 đã cũng với Hoàng Lê Minh, Đặng Hoàng Trung, Nguyễn Quốc
Thắng rinh những chiếc huy chương Toán quốc tế đầu tiên cho Việt Nam) thì có một
chi tiết khá đặc biệt: PGS.TSKH Vũ Đình Hòa đã nhắc đến một người thầy với một
tình cảm xúc động lạ kỳ. Đó là thầy Tôn Thân, giáo viên dạy chuyên Toán của Trường
THCS Trưng Vương. Nhắc đến thầy, PGS.TSKH Vũ Đình Hòa liên tục phải gỡ đôi kính
dày hơn 10 điốp của mình để lau nước mắt
Thời gian trôi đi, tôi vẫn chưa gặp được thầy Tôn
Thân thì thật bất ngờ, trong cuộc trò chuyện mới đây của tôi với Giáo sư Ngô Bảo
Châu (người vừa được trao giải thưởng Fields), thầy Tôn Thân lại xuất hiện. Thầy
cũng chính là thầy giáo dạy chuyên Toán cấp hai của Ngô Bảo Châu, cũng là một
trong những thầy giáo đã ảnh hưởng lớn đến con đường khoa học sau này của Giáo
sư. Điều đó một lần nữa lại thôi thúc tôi tìm gặp thầy Tôn Thân.
Thầy Tôn Thân đón tôi với một nụ cười thật hiền hậu.
Thầy đẩy xe giúp tôi lên bậc thềm nhà cao ngút, ân cân như tôi là học trò cũ của
thầy vậy. Tôi hỏi thầy có phải là cháu ngoại của học giả Phạm Quỳnh, chủ bút của
tờ Nam Phong không, thì giọng thầy náo nức: "Đúng rồi, Phạm Quỳnh là ông
ngoại của thầy, tiếc là ông mất khi thầy còn quá nhỏ. Nhưng thầy ảnh hưởng lớn
bởi cốt cách và tri thức của ông qua lời kể của mẹ. Ông mồ côi sớm, sức khỏe
lúc nào cũng yếu ớt, nhưng trong ông lại tiềm tàng một ý chí tự học vươn lên
mãnh liệt. Ông yêu nghề dạy học vô cùng, tất cả mọi công danh, thành đạt, tiếng
tăm của ông đều do nỗ lực tự học của ông mà nên. Sang Pháp, ông đã diễn thuyết
bằng tiếng Pháp, hoàn toàn do ông tự học tiếng Pháp ở trường Viễn đông Bác Cổ.
Sau này, ông còn dịch thơ Đỗ Phủ, tiếng Hán cũng là do ông tự học, càng cho thấy
một năng lực bền bỉ, kiên trì, vượt mọi khó khăn, biết quý trọng tri thức của
ông. Tất cả những phẩm hạnh của ông như một mạch nước ngầm bền bỉ thấm vào thầy".
Thầy Tôn Thân bảo với tôi rằng, truyền thống gia
đình và cả yếu tố bẩm sinh di truyền là vô cùng quan trọng. Bố thầy là GS Tôn
Thất Bình, Hiệu trưởng Trường Thăng Long xưa, nơi mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
Giáo sư Đặng Thai Mai từng dạy học. Theo thầy Tôn Thân, những yếu tố làm nên
thành công của Giáo sư Ngô Bảo Châu, ngoài môi trường khoa học lành mạnh mà anh
được may mắn thừa hưởng từ bố mẹ, và sau này là trường ĐH Sư phạm cao cấp của
Pháp; ngoài năng lực, sự nỗ lực vượt bậc của anh trong suốt 15 năm dành cho
"Bổ đề cơ bản", thì còn có yếu tố di truyền từ truyền thống gia đình.
Nhắc đến những học trò của mình, thầy Tôn Thân và
người bạn đời của mình là cô giáo Vũ Thị Trang, giáo viên Trường Tiểu học Trưng
Vương đã nghỉ hưu đều xôn xao, lòng dâng lên những cảm xúc êm dịu, ngọt ngào nhất.
Thầy Tôn Thân vốn là một giáo viên dạy Văn của Trường
THCS Trưng Vương, nhưng những năm 1970, trường lại thiếu giáo viên dạy chuyên
Toán. Vậy là thầy chuyển sang dạy chuyên Toán, đầy thử thách và mạo hiểm, nhưng
có lẽ đó cũng là cái duyên của thầy với Toán học. Thế rồi, lớp chuyên Toán đầu
tiên được thành lập, cả thành phố chỉ tuyển được 30 em sau kỳ thi tuyển đầy khắc
nghiệt. Hồi đó, kiến thức về toán học của thầy có lẽ chưa đủ nhiều, nhưng bù lại,
thầy yêu học trò của mình vô cùng, thầy dành cho học trò tất cả những tình cảm
trong trẻo nhất. Thầy đã dạy họ bằng một tình yêu trẻ nhỏ, thắp lên trong những
cô cậu học trò non nớt những khát vọng đầu đời. Còn tôi thì nghĩ rằng, tình yêu
đó của thầy quá lớn đã khiến thầy có lúc như mê muội, như bị mê dụ, thôi miên
thầy lao vào chân trời của Toán học.
Trong hồi ký của PGS.TSKH Vũ Đình Hòa, anh viết về
thầy Tôn Thân của mình với những lời tha thiết: "Rơi rụng ít nhiều trong
cuộc đời, nhưng vẫn còn những người trong số chúng tôi làm khoa học và chắc chắn
sẽ chỉ làm khoa học chứ không làm gì khác. Vâng, thầy đã truyền cho chúng tôi một
lý tưởng về cuộc sống và con người. Kỷ niệm thơ ấu của chúng tôi có một giai đoạn
sáng chói là thời gian học thầy. Có lẽ thầy là người thứ hai sau bố mẹ luôn lo
lắng thật sự cho chúng tôi".
Làm sao anh có thể quên được thầy Tôn Thân với dáng
vẻ gầy gò thư sinh, cọc cạch đạp xe đến nhà những học sinh yếu kèm toán cho các
em vào mỗi buổi chiều. Làm sao họ có thể nguôi nhớ về những cuốn sách nhàu nhĩ
quý hiếm mà thầy cất công sưu tầm, tìm kiếm để mang đến cho học trò. Rồi hình ảnh
thầy đứng co ro, chờ học sinh xem đá bóng ở ngoài sân vận động dưới sương đêm
giá buốt, để chở học sinh về nhà mình ngủ.
Hình ảnh thầy và trò miệt mài tìm những lời giải
toán đẹp nhất quanh chiếc bàn làm việc cũ kỹ của thầy, đến khi tìm ra lời giải,
thì tiếng chuông xe điện đã leng keng báo hiệu ngày mới. Thầy đã dành cho học
sinh của mình những quyển sách quý nhất trên giá sách của mình. Chính trái tim
nóng ấm, dịu dàng một tình yêu học trò luôn thường trực trong thầy đã là một chất
men làm thăng hoa, khiến thầy không ngừng có những sáng tạo, sáng kiến mới mẻ,
độc đáo trong dạy toán và trong phương pháp sư phạm
Thầy Tôn Thân xúc động nhớ lại: "Những năm đầu
tôi phải tự học tiếng Nga, tiếng Pháp để đọc sách toán của họ, hồi đó ngoài quyển
sách giáo khoa, chúng tôi chỉ có một vài quyển sách tham khảo. Sách vở hiếm
hoi, học trò thì quá thông minh khiến tôi lúc nào cũng trong tình trạng căng thẳng.
Nhưng tôi quyết tâm không để cháy giáo án, không thể để hết vốn, tất cả vì học
trò. Ngày nào tôi cũng tìm tòi tư liệu về toán, sưu tầm các bài toán mới với những
lời giải khác nhau để mang đến cho các em. Mà lạ lắm, hồi đó học sinh chuyên
toán học toán say mê lạ lùng. Có những tiết học thầy trò quá say sưa, trống báo
hết giờ lúc nào cũng không hay. Tôi tâm niệm, dạy toán là vừa dạy khoa học,
nhưng cũng là dạy nghệ thuật, làm sao để khơi gợi các em tình yêu toán học và một
khát vọng chiến thắng".
Thầy tâm sự, thầy không bao giờ áp đặt cách dạy của
mình vào những bộ óc non nớt nhưng khao khát sáng tạo. Giờ luyện tập, thầy len
giữa thế giới sáng tạo của học trò, cùng hồi hộp, cùng vui buồn với các em qua
những trang nháp trắng tinh đến khi chằng chịt con số, hình vẽ. Thầy còn tìm đọc
loại sách "Kim Đồng" để hiểu thêm sự vật qua đôi mắt trẻ thơ sẽ ra
sao. Đêm đêm, bên những bài toán hóc búa, thầy luôn trăn trở, khi giải quyết
bài này, các em sẽ theo con đường nào? Thầy đã "sống lại đời học
trò", để hiểu cách nghĩ kiểu học trò, chọn đúng điểm tựa nâng các em lên tầm
cao hơn. Thầy để cho các em tự bầu đội tuyển, học trò tự tôn vinh nhau sẽ không
có yếu tố nhiễu chen vào.
Để bù đắp tình trạng thiếu sách học trầm trọng, thầy
Tôn Thân đã sáng tạo ra "Hồ sơ bài tập", ở đó thầy ghi đề bài, xuất xứ
đề bài và các cách giải khác nhau, có ý hay của học sinh kém và cả thiếu sót của
học sinh giỏi (có bài tập thầy sưu tầm được 15 cách giải). Thầy còn phát động
phong trào viết báo tường bằng toán học, ai có lời giải hay, nghĩ được đề bài
hay, thì viết vào tờ báo tường đó để tất cả cùng chiêm ngưỡng. Thầy cũng là tác
giả của "bài tập câm" (nôm na là thầy đưa ra ký hiệu để học trò dựa
vào đó nghĩ ra các loại đề bài khác nhau, khơi gợi tư duy của học trò). Năm nào
Tết đến, quà thầy mừng tuổi cho học trò là những gói quà nhỏ xinh xắn, bên
trong có bánh kẹo và một bài tập toán, em nào giỏi thầy tặng đề toán khó, em
nào yếu, thầy dành cho đề nhẹ hơn…
Năm 1980, ngành Giáo dục đã tổ chức hội nghị tổng kết
sáng kiến kinh nghiệm trong giảng dạy, dạy học lần thứ nhất (đến nay vẫn chưa
có lần thứ hai). Thầy Tôn Thân đã "trình diễn" cách dạy một bài toán
hình học về tam giác. Thầy không đi theo cách thông thường là dựa vào giả thiết
để chứng minh, mà bắc một "cây cầu phụ" từ giả thiết để chứng minh. Kết
thúc giờ trình diễn, thầy Vụ trưởng Vụ cấp III lúc bấy giờ đã reo lên: "Trời
ơi, lâu lắm rồi tôi mới được dự một kiểu dạy học như thời Pháp ngày xưa".
Cả hội trường rộ lên tiếng vỗ tay không ngớt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng xúc
động, đến bên ôm lấy thầy Tôn Thân. Tại hội nghị này, thầy đã được trao giải A.
Kể lại cho tôi nghe câu chuyện này, thầy Tôn Thân cho hay thầy rất tâm đắc với
câu nói: "Đừng bắt người ta uống, hãy làm cho người ta khát". Dạy học
cũng vậy, đừng áp đặt học trò, luôn khơi dậy lòng khao khát chiếm lĩnh những đỉnh
cao toán học trong học trò, càng không nên nhồi nhét học trò.
Ngô Bảo Châu là học sinh khóa chuyên Toán cuối cùng
của thầy Tôn Thân, vì sau đó thầy chuyển sang làm cán bộ nghiên cứu của Viện
Khoa học giáo dục Việt Nam. Năm 1995, thầy bảo vệ luận án Tiến sỹ. Năm 2020, thầy
được phong chức danh Phó Giáo sư và năm 2006, thầy được nhận danh hiệu cao quý:
Nhà giáo Nhân dân.
Hiện nay, thầy vẫn là chuyên viên cao cấp của Viện
Khoa học giáo dục, vẫn viết sách và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Thầy là tác giả
của 50 đầu sách về phương pháp dạy học tiên tiến, phương pháp làm toán hiện đại.
Nhưng lòng thầy nhiều trăn trở về hệ thống trường chuyên lớp chọn hiện nay, quá
nhiều, tràn lan và biến tướng nên việc chọn học sinh giỏi không thể nào chính
xác được. Có nhiều người còn sai lầm khi đặt ra mục tiêu của lớp chuyên là để
luyện thi đại học, cho rằng, học chuyên như một món đồ trang sức, dạy nhồi nhét
kiểu gà nòi.
Thầy rất buồn khi hiện nay, chỉ còn hệ thống chuyên
cấp III, trong khi những năng khiếu toán học và những môn khoa học cơ bản, cần
được phát hiện, nuôi dưỡng từ cấp hai, nếu không nó dễ thui chột. Nhưng cấp II
hiện nay hệ thống chuyên đã bị dẹp bỏ.
Câu chuyện của thầy và những học trò chuyên toán năm
xưa đã khiến tôi cồn cào nhớ về thầy cô của mình. Ai cũng có một vùng kỷ niệm
tuyệt đẹp, thánh thiện đó. Thầy Tôn Thân ở một nghĩa nào đó có lẽ cũng giống
như hình ảnh thầy giáo già Đuysen trong truyện ngắn "Người thầy đầu
tiên" của nhà văn Aimatov. Đuysen khi đọc còn đánh vần một cách chật vật,
trong tay không có lấy một quyển sách giáo khoa nhưng đã mở trường, mở ra một
chân trời mới cho biết bao đứa trẻ nghèo, đã thắp lên ước mơ vươn đến đỉnh chóp
cao siêu của khoa học trong cô bé Antưnai, sau này là viện sĩ triết học…
Trong nhiều lá thư học trò gửi cho thầy Tôn Thân từ
những đất nước xa xôi, nhiều người đã viết, khi họ bước lên bậc thềm vinh
quang, lòng họ đều rưng rưng nhớ đến thầy Tôn Thân. Bởi lẽ, họ có thành đạt,
hào quang bao nhiêu đi chăng nữa thì những ánh hào quang đó có lẽ cũng đều bắt
đầu từ những "bài học đầu tiên" của thầy Tôn Thân
Học trò của thầy Tôn Thân, ngoài Giáo sư Ngô Bảo
Châu, PGS.TSKH Vũ Đình Hòa còn có rất nhiều người thành đạt. Đó là Lê Thị Hồng
Vân, nữ tiến sĩ trẻ nhất Việt Nam hiện đang là giảng viên trường ĐH của CH Séc,
thường xuyên được mời thỉnh giảng ở Pháp, Đức. Nguyễn Đình Công, trước đây là
Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam. Vũ Hà Văn, con trai của nhà thơ Vũ Quần
Phương hiện là Giáo sư tại Mỹ, một trong những nhà toán học hàng đầu về chuyên
ngành tổ hợp. Hoàng Nam Tiến, một trong những giám đốc đầy năng lực của FPT…
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










